Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Thưởng trà tại chùa Vạn niên (Tháng 4.2015)

(Nguyễn Dương Anh) Một chiều đầu hè oi bức, mặt đường phả nhiệt vào mặt làm mặt ai cũng như da gà chọi, đỏ tưng bừng. Quãng đường từ nhà đến chùa Vạn Niên không quá xa nhưng vì là lần đầu đến nơi này nên đi tìm chùa mất thêm một đoạn thời gian. Cuối cùng khi đứng trước cửa chùa, bỗng có cảm giác: duyên đến.

Bước qua cánh cổng chùa là một không khí khác, cảm giác oi bức của mùa hè như được cởi xuống thay vào đó là không khí trong lành ngậm hương trầm thoang thoảng của đèn hương nghi ngút khí thịnh ngày mùng 1.

Buổi sinh hoạt trà hàng tháng của nhóm Trà và Cuộc sống lần này được tổ chức trong khuôn viên chùa Vạn Niên, nơi có cây xanh bóng mát, tượng Phật trang nghiêm, tiếng tụng kinh nhạc phật thanh tịnh và đặc biệt có gió mát từ hồ Tây thổi vào. Quả thật là một nơi lý tưởng để thưởng trà.

Buổi sinh hoạt có thật nhiều người, người làm trà, người bảo vệ và phát triển cây trà cổ thụ Việt Nam, có cả thầy cô giáo giảng viên, nhân viên ngân hàng... và có những cô cậu sinh viên... chung tất cả, họ là những người yêu trà, thích cảm giác nhàn tảng nhâm nhi chén trà bên bạn hữu.

Hương trà quyện với hương trầm nhàn nhạt lại có phong vị rất khác với ngồi trong phòng trà thưởng trà. Trong tiếng chân nhè nhẹ của khách phương xa hành hương đến nơi cửa Phật, giọng nói hào sảng hữu lực của anh Nguyễn Việt Bắc thu hút sự chú ý của chúng tôi. Anh là một người rất yêu trà, anh đã từ bỏ ngành học của mình để đi theo cây trà, phát triển và bảo vệ nó. Theo từng mẩu chuyện nhỏ anh chia sẻ về trà, về "cô bé Dương Anh" đang loay hoay cố gắng phát triển vùng chè của nhà mình, của quê mình để những người nông dân trồng chè có thể làm giàu bằng chính nghề truyền thống của họ làm chúng tôi xúc động. Một cô gái yêu cây chè, muốn nó không chỉ là đam mê mà còn là "nghiệp" mình theo đuổi, muốn nó giúp quê mình bớt khổ... muốn cây chè của Việt Nam vươn tầm ra thế giới... Một ước mơ như vậy thử hỏi chúng tôi làm sao có thể không xúc động?

Anh Bắc đâu chỉ chia sẻ có vậy, cầm chén trà trên tay anh nói với chúng tôi về "trà sạch", về "trà tam rượu tứ", về "trà Việt". Những câu chuyện này tuy gần gũi giản dị nhưng lại sâu sắc và khoa học. Anh làm chúng tôi cảm phục về hiểu biết sâu rộng của anh về trà, về cuộc sống...


Trà qua vài tuần. Từng câu chuyện chia sẻ của những người tham gia về cách thưởng trà của mình. Tôi chợt nhận ra, mỗi người trong mỗi hoàn cảnh khác nhau lại có một cách thưởng trà khác. Một nhúm trà nhỏ, một ít nước suối cũng là thưởng trà, một bộ trà cụ một nhúm trà thơm, một tống nước sôi cũng là thưởng trà. Mỗi cách có một phong vị riêng, tuỳ theo cảm nhận của người thưởng trà mà cảm giác thư thái, ung dung khác nhau.

Gió mát Tây Hồ như làm câu chuyện của chúng tôi sôi nổi hơn, hương trầm không át được hương trà thơm ngát thanh nhiên.

Một người anh nữa, người làm trà sen Tây Hồ mà chúng tôi vẫn gọi là "nghệ nhân", anh chậm rãi châm trà và kể cho chúng tôi nghe câu chuyện làm trà. Trà sen Tây Hồ có thể nói là loại trà đứng đầu trong các loại trà ướp hương, nó mang phẩm vị của đất Hà thành, của con người Việt Nam, nồng nàn mà nhẹ nhàng, nồng đậm mà sâu lắng.


Làm trà đâu phải dễ, khó lắm ai ơi. Từ chọn trà, chọn sen, canh thời gian ướp trà... bao nhiêu công đoạn trong đó, bao nhiêu tâm huyết, tỉ mỉ trong đó hẳn người đang ngồi thưởng thức chén trà thơm này không thể biết hết được. Nhưng nghe anh kể, tôi cũng hiểu được sự công phu, cầu kỳ trau chuốt trong đó và thầm hâm mộ anh. Hâm mộ cách anh gìn giữ văn hoá Việt theo cách của riêng mình, gìn giữ văn hóa trà Việt.

Tiếng bước chân nhẹ dần, đèn lồng được thắp lên trong mùi vàng hương cháy cũng là lúc chúng tôi phải chia tay nhau, tiếng cười nói, câu chào nhẹ buông. Cất chiếu, dọn trà cụ, chúng tôi chắp tay cúi chào sư thầy. Sư thầy cười hiền như Phật, gật đầu đáp lại.

Bước ra cổng chùa, ngoái nhìn những hình tượng Phật khắc trên tường, hình Bồ Tát an nhiên mỉm cười nhìn chúng sinh. Hương trà vẫn đượm trên môi, vị ngọt thanh nhẹ còn vương trên đầu lưỡi làm chúng tôi vừa xa lại nhớ vị trà.

Cảm ơn nhóm Trà và Cuộc sống, chị Dương Anh Anh đã mang đến cho chúng tôi một buổi thưởng trà với sự thanh tịnh cùng chia sẻ thú vị về trà. Hi vọng một ngày không xa sẽ lại có một buổi thưởng như vậy trên đất Phật an nhiên.


- Thủy Tiên,
Nguồn: Trà và cuộc sống


Album ảnh












Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

Các thành phần dinh dưỡng trong Trà

(Nguyễn Dương Anh) Các thành phần dinh dưỡng trong trà gồm có axit amin, vitamin, chất khoáng, hydratcarbon, protid và lipid.

a. Axit amin
Thành phần chủ yếu của tổ chức tế bào con người là protid; trong đó axit amin là đơn vị cấu thành của protid. Có tới 25 loại axit amin trong cơ thể con người, trong đó có 8 loại mà cơ thể con người không thể tổng hợp được, phải dựa vào nguồn thức ăn bổ sung bên ngoài.
Hàm lượng axit amin tự do trong trà là 2-5%. Axit amin có tác dụng sinh lý tốt với con người như trợ tim, lợi tiểu, nở giãn huyết quản…
b. Vitamin
Vitamin là một hợp chất hữu cơ rất cần thiết cho quá trình trao đổi vật chất trong cơ thể con người. Đó là một loại coenzym tham gia thành phần dinh dưỡng như protid, lipid, glucid. Tuy cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng con người không thể tự tạo ra được mà cần phải lấy bổ sung từ thực phẩm cung cấp bên ngoài.
Trong lá chè tươi có nhiều loại vitamin hòa tan trong lipid và vitamin hòa tan trong nước. Vitamin hòa tan trong lipid (như A1, A2, D1, D2, D3, D4, K1, K2) và vitamin hòa tan trong nước như (như B1, B2, B6, B12, PP, pantotenic, C, P). Đối với các loại vitamin hòa tan trong nước, khi hãm trà với nước sôi, có thể chiết xuất tới 80% vitamin.
* Vitamin C
Hàm lượng vitamin C (hay ascorbic axit) có nhiều trong trà; 100g trà khô có 100-500mg vitamin C, cao hơn chanh, dứa, táo và cam quít. Vitamin C rất dễ bị phân giải bởi các chất oxy hóa khử, đặc biệt ở nhiệt độ cao và khi có khim loại nặng như Cu [đồng], Fe [sắt]; trong công đoạn lên men và sấy khô của quá trình chế biến trà đen bị phá hủy nhiều; trà xanh bị phá hủy ít nên có nhiều vitamin C hơn trà đen.
Vitamin C có tác dụng cầm máu, thúc đẩy oxy hóa lipid, bài tiết cholesterol cho nên chống được bệnh cao huyết áp và xơ cứng động mạch. Vitamin C còn tham gia quá trình oxy hóa khử trong cơ thể người, xúc tiến tác dụng giải độc, có lợi cho việc bài tiết kim loại ra ngoài cơ thể. Vitamin C gây trở ngại cho quá trình hình thành u căng xe; nếu thường xuyên uống trà có thể làm chậm quá trình phát triển u căng xe cơ thể. Hàm lượng vitamin Ccaanf thiết cho người lớn là 60mg/ngày; cho nên chỉ cần uống 3-4 chén trà/ngày là đủ nhu cầu.
* Vitamin B trong lá chè có nhiều loại; tác dụng, hàm lượng và nhu cầu của mỗi loại đối với cơ thể con người đều khác nhau.
Vitamin B1 (Thianin) có tác dụng duy trì cơ năng thông thường trằng cách thúc đẩy trao đổi vật chất của hệ thống thần kinh, tim phổi và tiêu hóa; giảm chứng bị viêm thần kinh, phòng ngừa tối loạn nhịp tim phổi và dạ dày. Trong 100g trà có 150-160mg vitaminB1; nhu cầu cần thiết hàng ngày của con người là 1700mg vitamin B1, 1 chén trà có 4,5-18mg vitamin B1; 5 chén trà uongs mỗi ngày mới đảm bảo 1,3-1,5 nhu cầu vitamin B1.
Vitamin B2 còn gọi là vitamin G, là riboflavin hạch hoàng tố, thường thiếu trong thành phần dinh dưỡng hàng ngày; thiếu vitamin B2 ảnh hưởng đến oxy hóa vật chất trong cơ thể người; thiếu vitamin B2 thường biểu hiện ở mắt, chỗ tiếp giáp nhau của da và niêm mạc; do đó vitamin B2 có tác dụng phòng trị viêm giác mạc, viêm da, viêm giác mạc miệng. Trong 100g trà có 1300-1700mg vitamin B2, cao hơn đỗ tương 5 lần, cao hơn gạo và dưa hấu 20 lần. Con người cần 1800mg/ngày; uống 5 chén trà/ngày mới cung cấp 11-14% nhu cầu vitamin B2.
Vitamin B3 (vitamin PP), thiếu nó trong cơ thể làm cho hàm lượng coenzym trong cơ bắp giảm rõ rệt và bị bệnh.
Vitamin B11 còn gọi là folic axit, có tác dụng dự phòng máu thiếu Fe [Sắt]. 100g trà khô có 50-80mg B12; uống 5 chén trà/ngày mới đảm bảo 2,5-4,0% vitamin B12 nhu cầu cơ thể người/ngày.
Vitamin P1 duy trì tính thẩm thấu của tế bào và vi huyết quản, chống albumin thẩm thấu vào huyết quản, giảm xuất huyết mao quản, tăng tính đàn hồi của huyết quản và chống cao huyết áp.
Vitamin tan trong lipid: Gồm có A, D, E, K… Trong đó vitamin E thúc đẩy chức năng sinh sản tế bào, chống oxy hóa, có hiệu quả trẻ hóa con người. 100g trà có 57-70mg vitamin E; vitamin K có tác dụng cầm máu.
c. Chất Khoáng
Chất khoáng là những chất không thể thiếu của cơ thể con người; có loại tham gia cấu tạo các mô tế bào và cơ xương; có loại tham gia việc duy trì tính thẩm thấu bên trong, sự cân bằng axit-bazo và sự trao đổi chất trong cơ thể. Trong trà có tới hơn 40 khoáng chất, bao gồm những nguyên tố đa lượng như K, Ca, Na, P, Mg, Cl và nguyên tố trung và vi lượng như Si, Fl, Al, Cd, Fe, Mn, Co, Zn, Se, As, Mo…
Muốn xác định thành phần khoáng chất trong chè phải xác định các thành phần trong chất tro của chè. Chất tro là phần vật chất còn lại sau khi nung chè ở nhiệt độ cao 500-600°C. Chất tro chia thành 2 nhóm, hòa tan và không hòa tan trong nước. Nhóm không hòa tan trong nước lại chia thành 2 nhóm nhỏ, hòa tan và không hòa tan trong axit HCl pha loãng.
Đó là một chỉ tiêu chất lượng chè thường xuyên phải phân tích. Hàm lượng tro trong chè biến đổi theo độ non già búp chè, thời kỳ sinh trưởng, giống chè… Trong búp chè có 4-5% tro, trong trà khô có 5-6% tro trong trà sản phẩm. Tổng lượng chất tro cao là chè xấu và mức độ vệ sinh công nghiệp kém.
– Kali hàm lượng cao nhất là 1,5-2,5%. Kali là chất cation chủ yếu trong tế bào chè; có tác dụng trọng yếu trong trao đổi vật chất, áp suất thẩm thấu và cân bằng huyết dịch.
– Selenium (GSH-PX) là một thành phần không thể thiếu trong thành phần tổ chức mô tế bào. Có tác dụng kích thích sản sinh tính miễn dịch protid và kháng thể, tăng cường tính đề kháng với bệnh tât, có tác dụng nhất định với bệnh tim. Hàm lượng trà xanh Tử Dương Thiển Tây tương đối cao đạt tới 1,5-3,8ppm. Tuy nhiên, uống trà có hàm lượng Se quá cao có thể gây nên rụng lông.
– Zn thông qua sự hình thành của RNA và DNA trực tiếp ảnh hưởng đến sự hợp thành của axit cucleic và protid. Nếu thiếu Zn thì sinh trưởng phát duchj của nhi đồng và thanh thiếu niên bị chậm lại. Hàm lượng Zn của các khu vực sản xuất chè Trung Quốc không đồng nhất. 1g trà không có 35-50mg Zn; trà xanh là 41,4, trà đen là 39,3, trà Ô long là 37,3mg Zn.
– Fluor là môi giới chủ yếu của kết cấu xương; có tác dụng phòng trị tốt đối với bệnh răng và bệnh loãng xương. Hàm lượng Fl trong chè tương đối cao (trên 100ppm), thùy loại trà, theo thứ tự cao đến thấp sau đây: Hắc trà, Ô long trà, trà đen, trà xanh. Thiếu Fl dễ mắc bệnh khắc sơn (Parkinson) và ung thư đại tràng. Fl có nhiều trong trà gạch ép bánh, là một loại trà yêu thích của các dân tộc thiểu số vùng Tây Tạng, Tân Cương, Cam Túc, Nội Mông Cổ. Các vùng này phần lớn nằm tại cao nguyên, lấy chăn nuôi súc mục làm nghề chính; trong kết cấu khẩu phần lương thực với một hàm lượng lớn là thịt và sữa, có nhu cầu uống trà gạch hàng ngày để phân giải lipid, hỗ trợ tiêu hóa và bổ sung vitamin. Do đó trà gạch (bánh) đã trở thành một nhu yếu phẩm phải có trong sinh hoạt hàng ngày của dân tộc thiểu sống vùng biên cương. Nhưng quá nhiều Fl lại gây bệnh Fluorosis ảnh hưởng đến sức khỏe.
– Calcium: Hàm lượng Ca trong trà xanh là 1,4-3,3mg, trà đen là 2,9-6,6mg/g trà khô.
– Magie trong trà xanh là 1,2-2,4mg, trà đen là 1,2-2,3mg/g trà khô.
– Fe trong trà xanh là 80-260mg, trà đen là 100-290mg/g trà khô.
– Mangan trong trà xanh là 0,2-1,1mg, trà đen là 0,25-1,3mg/g trà khô.
Mỗi ngày uống 5-6 chén trà thì đảm bảo ±45%, 25% và 10% nhu cầu về mangan, kali, Se và Zn.
d. Các loại glucid (hydratcarbon)
Glucid là loại vật chất dinh dưỡng chủ yếu của con người, để duy trì ổn định giữ nhiệt độ cơ thể. Glucid là nhóm hợp chất hữu cơ quan trọng và phổ biến trong thực vật. Hàm lượng glucid chiếm tới 85-9-% trong nhiều thực vật, nhưng trong lá chè thấp, không vượt quá 20% trọng lượng chất khô, thuộc loại nước uống ít đường thích hợp người mắc bệnh đái tháo đường.
Glucid là nguồn chủ yếu cung cấp năng lượng trong tế bào thực vật và có tác dụng chống rét, chống bệnh. Glucid trong cây chè phân loại thành hai nhóm lớn:
– Glucid đơn giản hay monosacarid (như đường bồ đào, glucose).
– Glucid phức tạp hay polysaccarid, do nhiều phần tử monosaccarid kết hợp với nhau thành mạch dài có trọng lượng phân tử lớn; nhóm này không tan trong nước hoặc tạo thành dung dịch keo (như tinh bột, cellulose).
– Hàm lượng glucid hòa tan trong nước tăng theo tuổi lá chè; hàm lượng glucid không tan nhiều hơn trong trà xấu.
– Các loại glucid (đường) hòa tan rất ít, còn các loại không hòa tan thì nhiều hơn. Đường hòa tan trong chè tuy ít nhưng có giá trị lớn trong việc điều hòa vị chè và tham gia trong quá trình caramen hóa dưới tác dụng của nhiệt độ, để tạo thành hương thơm vị ngọt (mùi thơm cốm nổi lên trong khi sao chè, hay mùi hương đọng lại trong chén uống trà). Đường khử tác dụng với catechin hay với axit amin (phenylalanin) trong quá trình lên men hay nhiệt học, tạo nên màu nâu sáng hay vàng rơm và mùi hoa quả.
----------------------------------------------
Nguyễn Dương Anh: Sưu tầm
Trích: Khoa học Văn hóa trà Việt Nam và Thế Giới – Trang [211-214]
Tác giả: PGS. Đỗ Ngọc Quỹ – TS. Đõ Thị Ngọc Oanh



Tác dụng của Trà xanh

 (Nguyễn Dương Anh): 
Trà là một thức uống quen thuộc của nguời Việt chúng ta và là một dược thảo lâu đời. Gần đây khoa học phương Tây lại biết thêm nhiều dược tính của trà, mà mẹ tôi hay gọi là chè. Thông lệ mỗi sáng của cụ là đặt ấm nước để pha trà và hưởng hương vị thanh tao của chén trà buổi sáng, trước khi bắt tay vào công việc trong ngày.
(Ảnh: internet)
Trà là môt thức uống đã có từ gần 5 ngàn năm nay, bắt đầu từ đời vua Thần Nông [1]. Thọat đầu, người Trung Hoa dùng trà như một dược thảo trong việc ngăn ngừa và trị liệu một số bệnh nhưng đến đời nhà Đường thì trà trở thành một thức uống của giới thượng lưu và quan quyền. Dần dần trà được phổ biến trong dân gian, trở thành thức giải khát thông dụng cho tất cả, từ giầu cho đến nghèo.
Cũng như miếng trầu ngày xưa, trà mở đầu cho câu chuyện giữa khách và chủ nhà và là một món quà không thể thiếu được trong dịp sêu Tết, đám hỏi, đám cưới của người mình. Uống trà còn được xem là một nghệ thuật ở một số các nước như Nhật Bản.
Người ta tính ra có đến hơn 2 ngàn thứ trà, nhưng xếp lọai thì chỉ có 5 lọai trà. Đó là trà xanh , trà ô long, trà đen còn được gọi là hồng trà, trà vàng và trà trắng [2].
Nói về trà xanh, thi Trung Quốc sản xuất 70% tổng số lượng trà xanh trên thế giới. Không những thế, con cháu cụ Khổng còn uống trà này nhiều hơn hết thẩy mọi người.
Tục truyền ngày xưa tại tỉnh Phúc Kiến có một anh nông dân chuyên hái trà. Ngoài nghề hái trà anh còn là thợ săn. Vì dãi nắng, da anh đã đen sẵn lại càng ngăm đen hơn nên người làng còn gọi anh là Ô Long. Một hôm Ô Long đi hái trà về thì bắt gặp một con thú. Mải rượt bắt nó, Ô Long quăng giỏ trà nên lá trà bị dập và sau đó mệt quá nên quên cả phơi trà. Nhưng sáng hôm sau, lá trà bỏ quên tỏa ra một mùi hương rất dễ chịu. Và dân làng đặt tên cho trà này là trà Ô Long.
Trong trà xanh có những hóa chất gì giúp cho con người? Bác sĩ Tiong Hung Ling, tac giả của quyển sách với tựa đề là Trà xanh và những lợi ích tuyệt diệu của nó (Green Tea and Its amazing Health Benefits), xuất bản năm 2000 tại Houston Texas nói về lợi ích và công dụng của trà xanh.
Bắt đầu với một số làng chuyên trồng trà xanh, ngưới ta nhân thấy là số dân làng trồng trà bị ung thư rất thấp , kể cả nhiều lọai ung thư và trường hơp này còn áp dụng cho những bệnh tật khác nữa cũng rất thấp. Nói chung uống trà xanh rất có lợi cho sức khỏe chúng ta.
Trong trà có nhiều chất minerals, polyphenols, và các hóa chất khác nữa. Ngoài ra trà còn có rất nhiều sinh tố. Lượng sinh tố trong trà nhiều hơn lượng sinh tố tìm trong rau và trái cây.
Một trong những khám phá gần đây nhất là trà có tất cả là 4 lọai catechins. Nhiều nghiên cứu cho thấy catechin là yếu tố quan trong trong việc giảm ung thư.
Trong tất cả các lọai trà, trà xanh được được xem là có tác dụng tốt nhất cho sức khỏe của con người. Trà xanh có nhiều sinh tố hơn tất mọi thứ trà. Cứ 100 gram trà thì có độ 500g sinh tố C, va 1.2mg sinh tố B2, gấp 4 lần lượng sinh tố trong các lọai đậu nành, gấp 9 lần lượng sinh tố tìm trong cơm gạo. Ngoài ra còn có sinh tố B1, A, nhưng trái lại chất caffeine lại ít hơn những thứ trà khác.
Một chất khác là Selenium, có tác dụng ngăn ngừa ung thư nhưng việc này chưa được xác nhận.
Trà có những chất như polyphenols, catechin, polysaccharides. Chất polyphenols có tác dụng chống viêm cứng thành mạch máu, hạ huyết áp, hạ chất mỡ và cholesterol. Ngoài ra chất polyphenols này còn tăng cường hệ thống miễn nhiễm. Chất Catechin của trà chống nhiễm trùng và còn được dùng để trị chứng tiêu chảy, chống lọai ký sinh trùng protozoa và trị vi khuẩn bệnh cúm.
Chất catechin và polysaccharides có tác dụng hạ đường trong máu, chống hư răng, gia tăng sự đề kháng acid của chất men răng va ngăn ngừa chứng thối miệng.
Thêm vào đó trà còn có chất caffeine giúp tỉnh thức, lơi tiểu, có sinh tố C, B làm gỉam bớt sự căng thẳng, ngăn ngừa cúm, có sinh tố E có tác dụng antioxidant, chống già. Và một điểm không kém quan trọng là có chất Theanine làm trà có vị ngon.
Theo Bác sĩ Ling, thì cần uống từ 4 đến 5 chén mỗi ngày, còn tác giả của quyển Drinking Vegetable: Green Tea thì khuyên nên uống 7 đến 10 chén, còn theo như bệnh viện chuyên trị ung thư MD Anderson tại Houston, TX và Memorial Sloan-Kettering của New York thì uống càng nhiều càng tốt.
Nhưng trên thế giới, ai là người uống chè nhiều nhất? Thưa là người Tây Tạng. Mỗi năm trung bình một người Tây Tạng uống khoảng 15 kí trà trong khi người Anh tiêu thụ khoảng 4 kí trà mỗi đầu người mỗi năm.
Ngày xưa, khi người ta dùng trà để chữa bệnh thì họ đun trà, nhưng khi trà trở thành thức uống thông dụng thì người ta lại nghiên cứu cách pha trà để làm sao lấy được tất cả hương vị của nó.
Nếu dùng nước sôi quá độ thì trà sẽ đục nước, làm nước trà đổi thành màu vàng. Vì trà xanh được chế biến từ lá nõn của cây trà, nên người ta khuyên là nước đừng để sôi quá, trong khi đó nếu pha trà ôlong thì nước phải thật sôi và để trà ngấm lâu hơn.
Một yếu tố pha chén trà ngon là phải dùng nước mưa, hoặc nước suối, hoặc nước giếng. Nhưng ngày nay vì ô nhiễm, chưa chắc đã là trong sạch hơn nước suối đóng chai.
Chất catechin cũng nhập theo chất sắt sẽ bị cơ thể đào thải cho nên Bác sĩ Ling khuyên người ta nên uống trà hai tiếng sau bữa ăn để chất sắt có thì giờ ăn vào cơ thể và như vậy chất catechin sẽ không bị lọai ra ngay.
Được hỏi là nếu uống trà cũ thì có ảnh hưởng tai hại gì không, Bác sĩ Ling trả lời là không vì chất nitrate không đủ để làm hại người ta. Nhưng cũng không có gì tệ và chán bằng chén trà thiu.
Nguồn: Radio Free Asia
Chú thích:
[*] Trà xanh không có nghĩa là trà tươi, trà xanh là cách gọi thuần Việt của dòng Lục trà.
[1] Là một huyền thoại về nguồn gốc của trà, cũng như huyên thoại trà được sinh ra từ việc Phật cắt bỏ mý mắt vứt xuống đấy rồi phần mý mắt của Phật đã mọc thành cây trà.
[2] Cách gọi khác cho các dòng trà theo Trung Hoa là: Lục trà – Hoàng trà – Bạch trà – Oloong trà – Hồng trà – Hắc trà. Nếu phân chia theo mức độ lên men của trà thì chúng ta có 4 dòng là Lục trà – Oloong trà – Hông trà – Hắc trà.




Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Trà ngon mỗi ngày

(Nguyễn Dương Anh) Cho một ngày làm việc hiệu quả. Hãy lựa chọn cho mình những sản phẩm thông minh sử dụng cho buổi sáng .


Trân trọng giới thiệu sản phẩm uy tin, chất lượng. Các bạn tìm thấy tại Trà Ngon


Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Xin đừng rót nữa…

(Nguyễn Dương Anh) Một vị giáo sư suốt cả đời chuyên nghiên cứu Trà đạo của Nhật Bản. Ông là một chuyên gia phương Tây, nên khi nghe nói có một người đàn ông ở Nhật Bản là bậc thầy về Trà đạo, ông bèn đi một chuyến sang Nhật để gặp gỡ vị sư phụ này. Ông tìm thấy vị này sống trong một căn nhà nhỏ ở vùng ngoại ô của Tokyo. Sau khi chào hỏi, họ cùng ngồi xuống uống trà với nhau. Vị giáo sư bắt đầu nói về Trà đạo, vì đó là nghiên cứu chuyên sâu của ông. Ông nói những gì ông biết, và ông tha thiết muốn chia sẻ điều hiểu biết của mình với bậc thầy người Nhật.
Trong khi ông nói, vị sư phụ vẫn tiếp tục rót trà. Tách trà đã đầy tràn nhưng ông vẫn tiếp tục rót, khiến trà chảy ra đầy bàn. Giáo sư kêu lên: “Ô! Xin đừng rót nữa. Tách trà này đã đầy rồi!” Vị sư phụ trả lời: “Tôi chỉ đang minh họa cho câu tục ngữ ‘Chở củi về rừng’ thôi”.

Thủy Ngọc dịch (Theo lifepositive.com)

Nguồn: Tịnh xá Ngọc Minh

Sự tinh tế trong thưởng trà của người Hà thành xưa

(Nguyễn Dương Anh) Mỗi cân trà, nghệ nhân Hà thành ướp cùng 1.000-1.200 bông sen vì thế người nước ngoài đã không ít lần xuýt xoa trước nghệ thuật ướp trà cầu kỳ, tinh tế của người Hà Nội.

Trong nghệ thuật ướp trà này, trà mạn hảo được ưa chuộng hơn cả. Nguyên liệu là trà Tuyết Shan cổ thụ vùng mạn ngược Hà Giang, mọc tự nhiên trên những dãy núi cao 800-1.300 m, quanh năm sương phủ. Các nghệ nhân trà Hà Nội trân trọng, nâng niu từng búp trà này như một báu vật. Họ chọn lựa những búp non, những lá trà bánh tẻ rửa sạch, cho vào chõ đồ chín. Sau khi phơi khô, họ cho trà vào chum (vại), trên phủ một lớp lá chuối khô, ủ 3- 4 năm cho trà phong hoá bớt chất chát, có độ xốp như giấy bản mà vẫn lưu giữ được hương vị đặc trưng.
Khi ướp, người ta rải một lớp trà rồi một lớp gạo sen mỏng, rồi lại một lớp trà, một lớp gạo sen. Cứ thế cho đến khi hết trà. Sau cùng, phủ một lớp giấy bản. Thời gian ướp tuỳ thuộc vào độ ẩm của gạo sen nhiều hay ít, thường từ 18-24 giờ. Sau đó, đem sàng để loại bỏ những hạt gạo sen. Sàng loại xong, trà được đóng vào những chiếc túi làm bằng giấy chống ẩm để giữ lấy cả hương sen lẫn hương trà, rồi sấy cho đến khi cánh trà khô, hương sen quyện thì bỏ ra. Lại ướp một lần sen thứ hai, thứ ba, thậm chí thứ tư, thứ năm tuỳ thuộc vào sở thích của người thưởng trà đậm hay nhạt. Càng ướp nhiều lần thì hương sen càng quyện, trà càng thơm. Trung bình, mỗi cân trà  ướp cần từ 1.000-1.200 bông sen. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, mỗi 1 kg trà sen thời xưa được đổi bằng 2-3 chỉ vàng mà người sành trà vẫn nao nức lùng mua bằng được.
Với người Hà Nội, uống trà là một thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, người ta phải để vào đó nhiều công phu. Những công phu đó, dần trở thành lễ nghi. Trong ấm trà ngon, người ta thấy phảng phất một mùi thơ và một vị triết lý. Các chân trà nhân từ xưa rất chú ý đến nghệ thuật thưởng trà với nhiều loại trà cụ (dụng cụ pha trà) cần thiết để làm sao cho người uống cũng có thể cảm nhận và thể nghiệm giống như các thiền sư. Dùng thìa gỗ múc trà cho vào ấm đất nung nhỏ, được gọi là “Ngọc diệp hồi cung”.
Để có được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phải được làm nóng lên bằng nước sôi. Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ thơm. Khi châm nước lần một gọi là “cao sơn trường thuỷ” rồi chắt ngay ra. Đây là thao tác tráng trà nhằm loại hết bụi bẩn và cho trà khô kịp thấm không nổi lềnh bềnh. Lần thứ hai đổ nước vào ấm gọi là “hạ sơn nhập thuỷ” nên đổ nước cao, tràn miệng bình để khi đậy nắp lại, bụi trà tràn ra hết, rồi dội nước sôi lên nắp để giữ nhiệt độ cao nhất cho ấm trà. Nước hai chính là nước ngon nhất được tạo ra trong vòng 1-2 phút, có hương vị đượm đà, thơm tho quyến rũ. Khi rót trà phải chuyên đều các chén sao cho nồng độ trà như nhau bằng cách kê khít miệng chén lại và đưa vòi ấm quay vòng. (Cách phổ biến trong truyền thống là rót ra chén tống (chén hạt mít) rồi chia đều ra các “chén quân”. Cách này ngày nay ít dùng vì phần làm nguội trà, phần hương trà phôi pha.
Dâng chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón chỏ và cái đỡ miệng chén gọi là “Tam long giá ngọc”. Người dâng trà và người nhận đều phải cung kính cúi đầu. Trước khi uống, đưa chén trà sang tay trái, mắt nhìn theo, sau đó đưa sang phải “du sơn lâm thuỷ”. Khi uống, cầm chén trà quay lòng bàn tay vào trong, dâng chén trà lên sát mũi để thưởng thức hương trà trước, sau đó tay che miệng nháp nháp từng ngụm nhỏ nhẹ. Tay áo các quan lại phong kiến thường rất rộng cũng một phần vì lẽ dùngche miệng khi uống trà là vậy. Che miệng khi ăn, uống, cười trong chèo, tuồng, trong đời sống người Việt xưa chính là một hành vi văn hoá. Người uống cũng phải chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời đọng trong cổ họng, nuốt tý nước bọt lần một, lần hai, lần ba để cảm nhận.
Ngoài cách uống trà trong gia đình, người Hà Nội xưa còn có các hình thức Hội trà, uống trà thưởng hoa đầu năm, uống trà thưởng hoa quý và uống trà ngũ hương. Trong đó, hội trà là hình thức tụ họp cùng thưởng trà khi có trà ngon hay dịp đặc biệt của các cụ. Thưởng trà đầu xuân là thói quen của riêng các bậc tao nhân chốn kinh thành xưa. Thường thì trước Tết, đích thân các cụ đi chọn mua hoa đào, cúc, mai trắng, thuỷ tiên ở tận vườn, chuẩn bị loại trà ngon nhất. Sáng mùng một, con cháu dành riêng cho cụ những giây phút đầu tiên để tịnh tâm và ngắm hoa, thưởng trà, sau đó mới là cả đại gia đình cùng ngồi quanh bàn trà chúc thọ cụ và nghe lời dặn dò.
Uống trà thưởng hoa quý như hoa quỳnh, hoa trà cũng là cái thú của nhiều người Tràng An. Đó cũng là hình thức hội trà quanh chậu hoa quý vào tối hoa mãn khai của những người cao tuổi, đàm đạo thế sự, văn chương và dặn dò lớp con cháu.
Trà ngũ hương chỉ giới hạn cho 5 người. Khay uống trà ngũ hương phải thửa 5 chỗ trũng để 5 loại hoa đang độ đượm hương nhất: cúc, sói, nhài, sen, ngâu và úp các chén kín hoa, bưng khay để lên nồi nước sôi cho hương hoa bám vào lòng chén. Pha trà mạn ngon và rót đều vào từng chén, mỗi người tham gia sẽ phải đoán hương trà trong chén của mình và cùng nhận xét. Sau mỗi chén trà, người chủ trà lại hoán vị hương để ai cũng được thưởng thức hết cái tinh tuý của hội trà ngũ hương.

(ST)

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Nhạc Thiền cho 1 buổi sáng yên lành

(Nguyễn Dương Anh) Nhạc thiền, hay còn gọi là “Mediatation music”, là thể loại nhạc đặc biệt không chỉ nhằm mục đích relax mà hướng tới tính thiền định rất cao. Trong đó chủ yếu sử dụng các nhạc cụ dân tộc như đàn tranh, sáo, đàn đá, khánh ngọc… kèm theo những nhạc cụ thính phòng như piano và violon. Đôi lúc còn có những âm thanh đặc biệt như tiếng suối chảy, tiếng chim hót, tiếng gió hiu hiu hoặc tiếng Phạn, tiếng niệm Phật…

Mỗi bản nhạc thiền có thời lượng khác nhau, đôi khi chỉ 1 – 2 phút, lại có lúc kéo dài tới 15 – 20 phút thậm chí 1 – 2 tiếng đồng hồ cũng không có gì lạ. Giai điệu chủ đạo là nhẹ nhàng, giúp tĩnh tâm và chìm sâu vào không gian thiền đạo. Người ta thường dùng nhạc thiền trong yoga, thiền định, relax… Tôi thì dùng nhiều nhất khi uống trà và lúc đi ngủ. Những âm thanh du dương khiến mình thư thái và đi vào giấc ngủ một cách nhẹ nhàng. Đôi lúc nghe nhạc thiền vào buổi sáng sớm hoặc thời điểm căng thẳng cũng giúp bình tâm hơn rất nhiều.
Mời các bạn ghé qua website www.nhacthien.net để thưởng thức album nhạc thiền tổng hợp tại đây. Bạn cũng có thể download về máy và nghe offline khi cài phần mềm IDM, hoặc chọn bài hát >> click chuột phải >> chọn “Download this song”. Chúc các bạn relax và thảnh thơi.
Nguyễn Quốc Chiến,

Thắp lên ngọn lửa từ mỗi trái tim

Phở trà – đạo của thiền nhân

(Nguyễn Dương Anh) Phở trà, món phở chay dưỡng sinh theo phương pháp Oshawa, đang ngân những thanh âm riêng có cho bản trường ca phở Bắc kì. Ngày mai thôi, khách sẽ quay lại với nhịp dồn dập mưu sinh, những giây phút nghĩ đến phở trà, lòng chợt lắng lại, tưởng như có mùi trà Bancha phảng phất đâu đây…
Trong bát phở trà quy tụ đủ những tinh hoa của đất, của biển khơi, và của con người tao tác. Chính vì vậy, mà phở trà đem lại cho người dùng thứ năng lượng thanh sạch, tinh khiết của thiên nhiên.

Có khi nào những bát phở tú hụ nào thịt, nào ngầu, nào mì chính làm ta thấy ngán, thì đây, phở trà thanh tân và giản dị như người gái quê hiền thục, dịu dàng, lúc nào cũng đợi ta quay về. Cái ngon của phở trà không phải là cái ngon lộ liễu bày phô ở bản hòa phối sắc màu, lại càng không phải ở vị ngậy béo của nước dùng. Cái ngon phở trà thấm thía và sâu lắng hơn, càng ăn càng cảm nhận rõ.
Ăn phở trà thực sự là một nghi thức. Trước tiên là vì hiện giờ chỉ có duy nhất quán chay thiên nhiên 33B ngõ 127 Thái Hà ở Hà Nội, và quán 221 Ngô Gia Tự, Q10 TP HCM biết chế biến thức quà này, và quán cũng chỉ mở cửa cho thực khách vào ngày chủ nhật của tuần, mà phở trà cũng chỉ có vào bữa trưa. Thứ đến, trước khi dùng phở, khách phải nhai thật kĩ, phải cảm nhận được vị ngọt như đường của 3 miếng gạo lứt thơm lành. Để đến khi nâng những sợi phở tinh khôi màu ngà ngà hồng tím, khách đã thực sự trở thành một người điềm đạm. Cuối cùng, dùng xong phở, khách sẽ được mời dùng trà Bancha, cùng nói chuyện với cô chủ quán hiếu khách. Quán mở hoàn toàn không vì mục tiêu lợi nhuận, mà muốn duy trì và truyền bá thực dưỡng, cách ăn khoa học, tốt cho tất cả mọi người.
Ẩn sau nghi thức ăn, là cách chế biến lắm công phu. Bánh phở được làm từ gạo lứt và trà Bancha, sợi rất mỏng, thơm. Để có được bánh phở dai, giòn mà không cần đến bất cứ hóa chất nào, thậm chí không cần trần mà chỉ cần ngâm nước trước khi dùng, đem lại nguồn dinh dưỡng dồi dào, người làm phở phải dậy từ 2 giờ sáng.
Bánh phở được xếp gọn vào trong bát, trên bày nhiều loại rau củ ninh mềm có tác dụng tốt cho sức khỏe như lọc máu, thanh độc, mà không phải ai cũng đã đủ duyên được nếm qua: củ ngưu bàng, rau câu Nhật Bản, củ sen hầm… Mùi hương của thiên nhiên nhẹ nhàng lan tỏa, ôm trùm lấy mỗi người. Ấy mới là khúc dạo đầu thôi nhé. Khi nào khách ăn, nước dùng mới được rưới lên, ngan ngát một mùi thanh tao của hành, thảo quả, rau mùi, vừng của những loại tương thực dưỡng tamari, miso… Nước phở có vị ngọt rất riêng nhờ rong biển, miso. Nếu liệt kê hết thành phần của bát phở, thì phải đến 20-30 cái vạch đầu dòng. Vừa ăn, vừa muốn cảm ơn người nấu phở vì đã nấu một bát phở công phu trong trạng thái thiền thanh tịnh, để mình được thưởng thức bát phở ngon từ miếng đầu tiên tới miếng cuối cùng và khi ăn xong rất lâu rồi, hương vị của phở vẫn luyến lưu nơi đầu lưỡi, những ngọt lành thấm vào từng tế bào, và để lại đấy sự an lành hy hữu. Phở trà chứa bí mật thực dưỡng Osawa, đưa con người về với thiên nhiên, trở về với chính mình. Khách không lo tê lưỡi vì mì chính, không sợ cảm giác nặng nề khó tiêu vì quá nhiều bổ béo…
Ngày mai thôi, khách sẽ quay lại với nhịp dồn dập mưu sinh, những giây phút nghĩ đến phở trà, lòng chợt lắng lại, tưởng như có mùi trà Bancha phảng phất đâu đây…
Hằng Phương

Trà, Thiền và triết lý nhân sinh của Phật giáo

(Nguyễn Dương Anh) Giữa mênh mang núi rừng, trên ngọn đồi thông, chỉ có một ấm trà, ta và chúng bạn đang luận bàn về những triết lý của đạo Phật. Thảng lại thấy tiếng chuông chùa ngân lên, như đưa Trà nhân vào cõi Thiền vô biên và bất tận…


Một buổi sáng cuối tuần, ta cùng đồng đạo rủ nhau đi về chốn Thiền tông. Mong mỏi một ấm trà giữa chốn đại ngàn, để được hòa mình vào với thiên nhiên, để thấy tinh thần được ung dung và tự tại. Đây là rặng trúc, đây là đồi thông, đây là phù điêu điển tích và những bức tượng Phật ngọc. Khung cảnh này sao mà đẹp thế. Chỉ một bước chân là đã qua khỏi cuộc sống xô bồ, náo nhiệt.
Tìm được một chòi lá, nơi đây giống như giảng đường ngoài trời, với bàn, ghế dài rộng. Ta cùng bạn dừng chân, mang ra từng món đồ trà. Nào ấm, nào siêu, nào chén, nào khay. Nhen lên ngọn lửa hồng, nghe tiếng nước sôi lách tách mà khá lâu rồi chưa thực tĩnh tâm để cảm lại. Trà là thế. Những âm thanh hay nhất, những giai điệu đẹp nhất – chỉ phát ra rõ nhất khi trà nhân thật chú tâm. Nếu lòng còn xao động, môi trường vẫn ồn ào thì không thấu được đâu.
Lại thêm một người khách mới quen. Uống trà tùy duyên. Gặp nhau là có thể thành trà hữu. Những câu chuyện bắt đầu từ Trà, đến Thiền và Phật giáo. Trà bắt nguồn từ đâu? Vì sao Trà Trung Hoa lại đẹp và Trà Nhật Bản lại mang tính “đạo” sâu xắc như vậy? Người Việt Nam uống trà để hòa hợp. Trà khác với rượu. Người uống rượu khi nóng lên có thể đánh nhau. Người uống trà cãi nhau thì có, chứ chưa phải động đến chân tay bao giờ. Nhưng không phải vì vậy mà bạn ra sức cổ súy cho trà. Ngược lại, bạn cần linh hoạt. Có lúc phải uống trà, có khi nên dùng rượu. Mỗi thứ đều có cái hay riêng. Những vĩ nhân khi xưa chẳng phải vẫn tay trà, tay tửu đó sao?
Chuyện lại đi sang đạo Phật. Tiếng chuông chùa giúp người ta tỉnh ngộ. Thanh âm đó giữa thinh không tĩnh lặng lại càng vang, càng rền. Phật giáo có Nhân – Quả, có Tùy Duyên. Những triết lý của đạo Phật không cần giải thích, chỉ cần cảm nhận. Nó giúp con người sống trong sạch hơn, hòa nhã hơn. Uống trà cũng vậy, tâm tính được điều hòa tốt hơn, ngộ tính được nâng lên cao hơn và bản tính thì ngày càng hoàn thiện.
Thời gian cứ trôi. Trải qua mấy tiếng đồng hồ mà chuyện trò vẫn chưa dứt. Ta bỗng bật cười: “Mình lên đây làm gì? Chẳng phải để thưởng trà sao?!. Vậy thì anh em hãy dừng lại một lúc và… Uống trà đi!”. Thay ngọn lửa mới, rót ấm trà mới, nhắm mắt lại để hòa mình với không gian. Tự nhiên thấy mình lạc vào vùng trời khác. Sao mà lại tịch mịch, lại thênh thang đến thế?!. Y hệt hôm nào còn ngồi Thiền bên Trúc Lâm An Tâm vậy, cũng thật mênh mông, cũng thật tĩnh lặng. Để rồi sau đó là cảm giác bình yên khó tả.
Mở mắt ra, buông xả một hơi. Giờ đã đến lúc phải về. Hẹn gặp lại Trà hữu trong một buổi tao ngộ khác. Ta lại chuyện trò, lại đàm luận bên những ấm trà ngon và đồng đạo. Thế nào là Duyên? Duyên tức là không Cầu mà chỉ có thể Gặp. Uống trà cũng tùy duyên, vì vậy mới gọi là Trà Duyên.
Thiền viện Trúc Lâm, trong một ngày giữa Thu.

Nguồn: Flame,

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Con đường trà Việt – Kỳ 3: Mơ về một “thánh địa” chè Việt

(Nguyễn Dương Anh) Nếu chè cổ thụ Suối Giàng là tặng vật của dãy Hoàng Liên Sơn khi ghé chân về miền Yên Bái, thì những vùng chè cổ ở Hà Giang gắn liền với dãy Tây Côn Lĩnh vòi vọi miền cực Bắc đất nước.
Chè cổ thụ Suối Giàng mang màu sắc của miền thượng giới, thì chè cổ thụ Hà Giang có dáng dấp can trường và nghĩa khí của những hiệp khách biên ải. Câu chuyện giữa ông Ngô Viết Thành với chúng tôi trong một buổi sáng Hà Giang vừa trở rét, sắt se cơn gió mùa đông bắc cứ thao thức những nỗi niềm…
Những cây chè cổ thụ này đã là một bảo chứng tin cậy để Suối Giàng trở thành “thánh địa chè shan tuyết” của Việt Nam – Ảnh: Ngọc Quang

Từ Hà Giang nghĩ về chè Phổ Nhĩ
Vốn là một kỹ sư xây dựng thủy lợi, sau khi về hưu ông Thành lập công ty xây dựng, nhưng rồi khi khám phá những rừng chè cổ thụ cực kỳ quý hiếm của Hà Giang lại không giúp cuộc sống bà con người Mông, người Dao khấm khá hơn, ông chuyển hướng đến với cây chè. Công ty TNHH Thành Sơn đã ra đời và làm nên thương hiệu chè shan tuyết Thành Sơn có tiếng. Một trong những trăn trở lớn nhất của ông Thành là làm sao để nguồn nguyên liệu của giống chè cổ thụ shan tuyết quý hiếm này phải đạt tới giá trị gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. Bởi một điều rất đơn giản là cũng với một vùng nguyên liệu như Hà Giang đang có, thậm chí chất lượng nguyên liệu chưa hẳn đã hơn shan tuyết Hà Giang, nhưng những người làm chè ở Vân Nam (Trung Quốc) đã sản xuất ra loại chè Phổ Nhĩ với giá bán lên tới cả trăm nghìn USD/kg nếu loại chè này được để lâu năm.
Trong giấc mơ của mình, thay vì từ nguyên liệu shan tuyết để chế biến ra loại chè vàng bình thường, ông Thành thiết tha đề xuất Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc cần khẩn cấp tư vấn cho người dân vùng Tây – Đông Bắc về quy trình kỹ thuật trồng, chế biến nguyên liệu để cho ra thành phẩm chè kiểu như Phổ Nhĩ. Theo ông, nếu làm được như thế, từ nguồn nguyên liệu của hơn 40.000ha chè shan tuyết Hà Giang, giá trị cuối cùng của sản phẩm chè hẳn là một con số đủ sức thay đổi cuộc sống hàng vạn người dân Mông, Dao, Tày… trên biên cương cực Bắc. Mơ ước ấy không chỉ riêng của ông Ngô Viết Thành, chúng tôi đã gặp những con người sống chết với cây chè shan tuyết để mang khát vọng trà Việt xứng danh với vị trí thủy tổ cây trà thế giới…
Nỗi lòng thương hiệu “Suối Giàng”…
“Chè chốt”
Ông Ngô Viết Thành kể rằng: Trong những năm chiến tranh biên giới phía Bắc, lính của ta trên các cao điểm đã phát hiện những cây chè cổ thụ này. Những phút “hưu chiến” giữa các trận đánh, anh em hái những chồi búp của giống chè shan tuyết cổ thụ quanh năm dầm trong sương giá, có lẽ chưa bao giờ biết tới hơi người, mọc quanh cao điểm rồi rang sao lên, vừa làm thức uống cho mình, vừa dành dụm gửi về làm quà cho bạn bè, gia đình ở quê. Vì chè được làm ra trên các chốt cao điểm nên quen gọi là “chè chốt” hay “chè lính”.
Trên một quãng phố của TP Yên Bái, chúng tôi đếm hàng chục tiệm trưng biển chè Suối Giàng, xa hơn, nhiều thành phố khác như Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang… tới tận Hà Nội, Sài Gòn cũng không ít tiệm bán chè “Suối Giàng”. Nhưng với sản phẩm 400 tấn chè tươi, cho ra 100 tấn chè khô mỗi năm, chè Suối Giàng ở đâu mà lắm thế?
Trao đổi điều này với ông Nguyễn Hợp Đoàn, phó chủ tịch UBND huyện Văn Chấn, được lời như cởi tấm lòng, ông Đoàn tuôn trào ấm ức: “Ai cũng biết chè Suối Giàng thật chỉ có một, nhưng chè núp dưới tên Suối Giàng thì có khắp cả nước. Giờ thì huyện chỉ biết tập trung phát triển vùng chè cổ thụ đúng theo nghĩa tự nhiên nhất. Chúng tôi từng có kế hoạch phát triển chè shan tuyết bằng cách giâm cành, bón phân để nhanh có chè thu hoạch, nhưng để bảo tồn nguồn gen của chè Suối Giàng, giờ đây huyện quyết định trồng chè bằng cách gieo hạt từ nguồn giống lấy từ những cây chè cổ thụ tốt nhất”.
Chị Lâm Thị Kim Thoa, chủ nhiệm HTX chè Suối Giàng, vốn là cán bộ Công ty Thương mại và du lịch tỉnh Yên Bái đã “rẽ ngang” sang làm chè chỉ bởi quá xót xa khi thấy chè Suối Giàng bị “đánh lận con đen” quá nhiều. Cùng với vài người bạn ở Suối Giàng và đặc biệt là anh Nguyễn Mạnh Bình, chồng chị, vốn gắn bó lâu với Suối Giàng, nắm vững các kỹ thuật chế biến chè riêng có tại đây. Sản phẩm của HTX Suối Giàng chưa nhiều, mỗi năm chỉ chừng vài tấn, nhưng như chị Thoa nói cố mà làm chè đúng nghĩa Suối Giàng, xây dựng thương hiệu riêng với niềm hi vọng “hữu xạ tự nhiên hương” mà đánh bạt đi những Suối Giàng giả hiệu đang nhan nhản trên thị trường. “Tuyết Sơn trà” là thương hiệu chè shan tuyết của HTX chè Suối Giàng do chị Thoa làm chủ nhiệm.
Ước mơ từ “thủ phủ” chè shan tuyết…
Suối Giàng hội đủ điều kiện để trở thành một “thánh địa” của chè cổ shan tuyết. Chỉ riêng cái khí hậu ôn đới như Đà Lạt hay Sa Pa của Suối Giàng đã khiến người ta thèm được đắm mình trong không gian bốn mùa mỗi ngày như thế này rồi. Cứ tưởng tượng con đường từ Văn Chấn lên Suối Giàng quanh co với mây núi bao bọc, ẩn sau một khúc cua là bất ngờ một quán trà hiện ra với những sơn nữ sao chè theo cách thủ công, rồi mời khách thưởng thức cái hương vị riêng có của cây chè nơi miền trời đã đủ cho lòng hưng phấn. Huống nữa, quanh những khu đồi miên man bóng chè kia, xen lẫn là những vạt pơmu dáng trầm mặc mà kiêu hãnh.
Không cần chi những biệt thự hoa lệ, hãy làm những ngôi nhà lợp bằng gỗ pơmu như người Mông bao thế kỷ nay vẫn quần tụ dưới chân đỉnh núi Chông Páo Mùa. Đó là những nếp nhà thơm sực mùi nhựa pơmu và tấm “ngói” bằng gỗ pơmu ấy biết cong lên dưới ánh nắng trưa cho những tia nắng lọt vào nhà, soi “những hạt bụi thành hạt vàng” như ý một câu thơ. Và khi mưa xuống, mái gỗ ấy biết khép lại úp khít lên che những hạt mưa xiên khoai.
Giữa rừng chè cổ thụ đẹp như những bonsai qua hàng bao thế kỷ ấy, trong những nếp nhà thơm mùi nhựa pơmu và hương hoa chè dịu ngọt, du khách bên bếp lửa tự tay pha ấm trà với những búp móc câu phủ lớp tuyết óng ánh bạc, nhìn qua cửa sổ mây đang giăng màn trên đỉnh núi, hay phóng tầm mắt qua lan can hiên nhà sàn để thấy cánh đồng Nghĩa Lộ – Văn Chấn huyền ảo trong sương sớm, hẳn không một du khách nào không cảm giác Suối Giàng chính là “miền trời” nơi hạ giới.
Tất nhiên tất cả những điều đó có là hiện thực hay không thì còn phải chờ đợi. Dù trên dự án để đưa Suối Giàng thành một thủ phủ của chè shan tuyết cổ thụ các thông số đã thành hình.
Có dịp đi ra xứ người, ghé thăm những làng trà của người ta đưa vào khai thác du lịch, mới biết chúng ta hơn hẳn về cảnh sắc, hơn hẳn vị chè và những gốc chè cổ thụ qua bao thế kỷ như Suối Giàng thì xứ người không làm sao có được, vậy mà người ta vẫn khiến hàng triệu du khách ghé đến mỗi năm.
__________
Chúng ta có quyền mơ ước về ngày mai của Suối Giàng như thế bởi với người Việt, chè (hay trà) đã là một phần văn hóa được gìn giữ qua bao nhiêu thế kỷ… chén chè (hay tách trà) đã là một thứ không thể thiếu để mở đầu nghi lễ giao tiếp của người Việt.
Kỳ 1: Nơi “thủy tổ” của chè rừng Việt
Kỳ 2: Huyền thoại chè “Shan Tuyết”
Kỳ tới: Giữ hương trà Việt
LÊ ĐỨC DỤC – ĐỨC BÌNH

Nguồn: tuoitre.vn